|
- Thư Viện Chùa Dược Sư
- CÁC BÀI VIẾT VỀ VU LAN
-

-
MẸ TÔI
-
---o0o---
-
-
Mẹ
mất đã năm năm, nhưng dư hương của mẹ đối với tôi như còn phảng
phất. Đường mai mẹ đi, phòng nhà mẹ ở, đâu đâu cũng còn ngát
thơm mùi mẹ. Tôi biết rằng: 'Ái bất trọng bất sanh Ta bà, niệm
bất nhất bất sanh Tịnh độ', nếu tôi còn lưu luyến về mẹ thì thật
trái lời Phật dạy, tín hữu sẽ cho tôi nói làm bất nhất. Song mẹ
con tôi hẹn nhau đã có chỗ, gặp gỡ đã có nơi:
-
Mẹ
về Cực lạc ít năm thì
-
Từ
giã Ta bà con cũng đi
-
Mẹ
nhớ đón con bên nước Phật
-
Mẹ, con cùng dự hội Liên Trì.
-
Đó, mẹ con tôi đâu còn trở lại Ta bà? Ở Cực lạc mà tu cho đến
khi đắc lực rồi phân thân vô số để độ chúng sinh. Nay viết mấy
lời 'Để lại cho vui' mà không nói về Mẹ một ít thì cái vui mất
đi đến nửa. Và tôi nghĩ rằng, một ngày nào khi đủ duyên, tập
sách nhỏ này đến tay quý vị, những vị nào đã gặp mẹ tôi lúc về
già, dù chỉ một lần thôi, cũng thấy những gì tôi viết về mẹ
không thêm một lời, không bớt một ý.
-
Mẹ
ơi, sau khi trả con về cho cha, mẹ thật đã hy sinh chịu đau khổ
cho con được sung sướng. Mẹ hòa tình thương con với thương bà
ngoại làm một mẹ rất có hiếu. Khi ngoại mất, mẹ khóc kể: 'Mẹ ơi,
con sáu lăm tối nằm với mẹ tám ba, mẹ nhường chỗ ấm cho con,
thật là mẹ chín mươi thương con bảy chục'. Mỗi khi cúng cơm, mẹ
thắp thuốc xoay trầu cho bà ngoại. Mẹ rất kính Phật trọng Tăng,
nhưng nâu sòng chay lạt thì mẹ rầu lắm. Vì hiếu với ngoại, mẹ
dùng chay theo ngoại mỗi tháng mười ngày. Những ngày đó mẹ rầu
như bị phạt. Lúc tôi xuất gia, ăn trường trai, mẹ phục lắm, gọi
bằng chị liền, mẹ bảo: 'Ăn chay được thì tôi cho là Phật sống
rồi đó'. Mẹ là dân trời (hoàng tộc) nên mặc dù không giàu mà
phong lưu, phục sức lụa là, mẹ ưa nem chả, gặp mấy ngày chay
liên tục từ 28 đến mồng một, mẹ gọi là đi tàu suốt, buồn bã rã
rời, thức cho đến 12 giờ khuya để ngã mặn. Lúc ngoại mất, mẹ gần
bảy mươi, ở hương khói cho ngoại. Mẹ sợ nhất tôi rủ cụ lên chùa,
nên đưa ra bài toán nan giải này: 'Tui là bà Thanh Đề đây,
nghiệp chướng nặng nề lắm, ưa mùi cá thịt tanh hôi, chị tu răng
cho bằng ngài Mục Kiền Liên mới độ tui nổi'.
-
Ngoại mất hai năm thì ni sư CT bàn: 'Ngoại mất rồi,
mệ một mình đơn chiếc, sư lên về hao tốn. Nếu sợ ở với chúng mệ
mất tự do, thì sư làm một cái nhà nhỏ ngoài vườn dừa, rồi ngoại
giao với lối xóm nhờ họ kho trách cá trách thịt, mệ ra đó ngã
mặn thì may ra mệ lên chùa được'. Nghe pháp muội đưa ý kiến chí
tình chí lý, tôi cám ơn đến trào nước mắt. Năm ấy tôi vừa ra
quyển 'Hai lần ơn Mẹ' được 150 ngàn, tôi làm nhà ngay. Nhà xong,
tôi tôn trí tượng Quan Âm và thọ trì tại nhà mới một bộ Pháp
Hoa. Khai kinh ngày 20/7, sau khi giải hạ, đến 26 xong, tôi
khuynh hết tấc thành cầu Phật Bồ Tát xui khiến cho mẹ phát tâm
lên ở chùa. Nhưng, thật tình tôi cũng ngại, mẹ nhiều nghiệp
chướng, mà mình tu hành chưa ra chi, chắc Phật cũng khó xử, vậy
xin để tùy ý Phật.
-
Hoàn kinh xong, tôi về hầu mẹ, thưa: 'Ngày mai mẹ đi tàu suốt,
con mời mẹ lên chùa, mấy cô nấu chay ngon lắm. Mẹ ở bốn ngày,
chiều mồng một về, khuya ngã mặn. Mẹ lên thử bốn ngày coi, mấy
cô mấy chị điệu ai cũng trong ngoại lên chơi cả, và mẹ có một
cái nhà mới xinh xắn. (Khi làm nhà, tôi không thưa với mẹ để
dành một ngạc nhiên)'. Mẹ suy nghĩ một lúc rồi dạy: 'Thôi, lên
thì lên luôn cho rồi'. Nghe mẹ dạy tôi lạnh xương sống, nghĩ làm
sao lại có chuyện ấy được? Tôi thưa: 'Không, mẹ chỉ lên ít ngày
cho vui, qua bốn ngày chay rồi về lại, chớ lên luôn làm chi!'.
Mẹ dạy: 'Không, tôi đã nghĩ kỹ, trên bảy chục rồi, ăn cá thịt đã
đủ, Chị nói mụ Diên ra mời ông thợ cúp vô thế phát cho tôi, rồi
tôi sửa soạn lên chùa luôn'. Lạy Phật, giờ đây viết lại đoạn
này, tôi vẫn còn tưởng như là một giấc mơ. Phật lực Pháp lực
thật bất khả tư nghì. Nhờ ơn Tam Bảo và diệu kế của pháp muội mà
mẹ tôi được lên chùa một cách bất ngờ. Lạc nguyện của mẹ con tôi
đã thành tựu.
-
Mẹ
ở chùa một thời gian thì xảy biến cố Mậu Thân. Qua nhiều cơn
kinh hãi, mẹ đâm ra lẩn thẩn đến nổi gọi tôi bằng mạ. Những
chiều tôi đi giảng xa, mẹ thường bảo dì Diên: 'Mụ đi tìm mạ tui
cho tui một chút'. Tôi chưa về kịp, mẹ ngồi khóc nước mắt ràn
rụa làm cả chùa ai cũng rưng rưng theo. Mẹ quên đến độ ấy, mà lễ
phép thì không quên, cô nào gọi mẹ cũng dạ. Trong chùa có một
điệu tám tuổi, gọi: 'Cố ơi!', mẹ đáp 'Dạ ơi', điệu thương quá ôm
hôn và dặn: 'Con là nhỏ nhất trong chùa, cố ơi chớ đừng dạ mà
tội hí'. Mẹ tôi dạ một cái rầm, khiến ai cũng cười lăn. Mẹ đẹp
lắm, và vô tư, nên ai cũng thương. Những ngày tôi đi vắng, chúng
xúm lại chơi với mẹ, lấy bút chì đỏ bôi môi thoa má cho mẹ, hái
hoa dại đeo tai cho mẹ. Mẹ mặc bộ com-lê mầu mỡ gà ngồi như pho
tượng, chúng tha hồ làm chi thì làm, thấy mẹ đẹp như bà tiên.
Làm đẹp xong họ nói: 'Gả mệ cho Diêm Vương hí?'. Mẹ dạ tỉnh bơ.
Mấy chị em đặt cái nhà mẹ ở là 'quán gió', mỗi chiều họ xúm
quanh mẹ chơi đùa. Các tín hữu đem đồ chơi biếu mẹ như làm quà
cho con nít. Có bà biếu tấm ảnh quảng cáo nấm tông cú, vẽ cô gái
đẹp, mẹ thích lắm, chơi với cô ta suốt ngày.
-
Một hôm tôi ngồi hầu, mẹ chỉ cô gái: 'Cô ni đẹp quá, mặt trái
soan nì, lỗ mũi cao, con mắt thật xinh, miệng cười cũng đẹp mà
hàm răng cũng đẹp nữa luôn'. Tôi chỉ tôi rồi thưa: 'Rứa mẹ nhìn
xem cô ni với cô nớ, cô mô đẹp hơn?'. Mẹ nhìn tôi một lúc rồi
cười chúm chím không đáp. Tôi hỏi: 'Mẹ coi cô mô đẹp hơn'. Mẹ
trả lời tỉnh bơ: 'Dạ thôi đừng nói nữa'. Tôi biết mẹ khó trả
lời, nên cố nài: 'Đừng nói răng được, mẹ phải thanh toán vấn đề
cho xong chớ'. Rồi tôi chỉ: 'Con mắt của cô ni với cô nớ ai đẹp
hơn, lõ mũi cô nớ với cô ni ai đẹp hơn?' (tôi chỉ con mắt nheo
nheo và lỗ mũi xẹp của tôi), 'và mẹ coi hàm răng của cô nớ và cô
ni ai đẹp hơn?' (tôi chỉ hàm răng sún của tôi). Mẹ nghĩ một lúc
rồi nói: 'Cô nớ đẹp mà không đẹp, cô ni không đẹp mà đẹp'. Rồi
mẹ ôm tôi. Tôi đem câu chuyện ấy bạch quí ngài, quí ngài dạy:
'Bà cụ lẫn mà biện tài vô ngại, tui sáng suốt như ri mà hỏi rứa
chắc tui nói cũng không được'.
-
Một hôm, khi chị em vây quanh, mẹ nói: 'Tui chừ không ưng chi
cả, không thương ai cả!'.
-
Tôi hỏi:
-
-
Mẹ có thương con không?
-
-
Dạ không.
-
-
Mẹ có thương cháu không?
-
-
Dạ không.
-
-
Mẹ có thương tiền không?
-
-
Dạ cũng không.
-
-
Rứa mẹ có thương Phật không?
-
Mẹ
nghĩ một tí rồi đáp:
-
-
Dạ, người nớ thì thương lắm.
-
Qua năm Nhâm Tý, Quảng Trị chạy loạn vào Thừa Thiên, tôi bàn
giao công việc cho pháp muội, hầu mạ vào Đà Nẵng, Nha Trang rồi
Phan Rang. Đến đâu ai cũng thương, và ưa chơi với mẹ. Phòng mẹ
lúc nào cũng có các ni cô và phật tử xúm lại nghe mẹ nói chuyện
mà cười lăn. Mẹ đến thăm hai dì tôi, ở lại. Hai dì dâng rượu
chúc thọ mẹ 82 tuổi, ca hát cho mẹ nghe. Mẹ ngồi từ bi tự tại
không nói năng chi cả. Dì út ôm mẹ: 'Chị tôi ngồi như Bụt sống,
không nói chi với hai em cả. Hai em của chị đây, chị có biết
không?'. Bỗng mẹ chỉ lên bàn thờ bảo: 'Nì, thờ cha mẹ thì thờ
một bên, để giữa mà thờ cha mẹ chồng'. Hai dì sững sờ: 'Trời ơi,
té ra chị tôi không lẫn chi cả'. Rồi dì đứng dậy để ảnh ông bà
ngoại qua một bên, cha mẹ chồng vào giữa. Mẹ nói: 'Ừ, rứa mới
phải chứ.'
-
Sư cụ viện chủ chùa Diệu Ấn Phan Rang mời mẹ vào
chơi. Tôi cũng muốn hầu mẹ đi đổi gió nên nhận lời. Sư cụ để
riêng tịnh thất tiếp mẹ tôi, theo yêu cầu của sư cụ, tôi đặt tên
Lăng Già Thất. Thất không rộng nhưng gọn và xinh, dưới ở, trên
gác thờ Phật. Ngày hai buổi cơm nước xong, tôi hầu mẹ lên lầu
tụng Thủy Sám để mẹ lạy và nghe, mẹ ưa lắm. Tôi lạy thì mẹ lạy
theo, tôi tụng thì mẹ gõ nhịp. Có con chó Tu Di nằm khoanh tròn
dưới chân bàn Phật. Khi tôi quì tụng, mẹ bảo nó: 'Nì, mạ tụng
kinh thì phải ngồi mà nghe như tui ri nì, chớ đừng nằm mà tội'.
Nói không nghe, mẹ xích tới đẩy nó, lôi nó cũng không dậy, mẹ
bảo: 'Thôi thì có mệt mỏi mà nằm cũng được, nhưng xây đầu vô bàn
Phật, chớ xây lưng rứa mà tội lắm nghe'.
-
Tịnh thất sư cụ lát ca-rô tấm đen tấm trắng, những ngày hạ lau
thật sạch, mẹ ngồi chơi một mình. Tôi nghe mẹ nói: 'Tui nói
chuyện với chị đen ni nhiều lắm, chị có nghe không? Mà không
thấy chị trả lời trả vốn chi cả rứa? Còn cái chị trắng ni (chỉ
tấm gạch trắng) cũng khinh người, chị cũng chẳng nói năng chi
với tui cả'.
-
Cuối năm 1973 tôi cõng mẹ về lại Huế, mẹ được 85 tuổi, càng lẫn
nhiều. Những đêm mưa lạnh kinh khủng tôi thường nằm với mẹ, vỗ
mẹ và thưa: 'Ngày nhỏ mẹ ấp con, bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn
phải không mẹ?' Mẹ dạ. 'Bây giờ mẹ già, con nằm hầu mẹ thì bên
ướt (nước tiểu của mẹ) con nằm, bên ráo mẹ lăn phải không mẹ?'
Mẹ cười không đáp. Tôi thưa thêm: 'Con chỉ hầu mẹ một kiếp ni
nữa thôi hí, rồi con về Cực lạc, mẹ có thương con thì gắng niệm
Phật thật nhiều để cùng về Cực lạc với con hí'. Mẹ xây mặt vào
tôi: 'Nì, cái nớ tôi để một rương đầy, đợi chi mà khuyên tui?'.
Tôi hỏi: 'Mẹ để cái chi mà một rương đầy?'. Mẹ đáp: 'Cái Phật'.
Năm sáu ngày sau tôi mới nhớ, mẹ dạy đúng, vì mẹ niệm công cứ đã
trên hai mươi năm.
-
Mẹ
xơi cơm xong bảo dì Diên: 'Mụ cho tui ba đồng'. Dì thưa: 'Chớ mệ
lấy ba đồng làm chi?' Mẹ cầm tay dì, bảo: 'Tui nói thì lấy ý mà
hội, chớ đừng nghe lời'. Dì thưa: 'Dạ hội là răng? Cha tui hội
cũng không được, nữa là tui' - 'Nhưng ba, bốn lượt như vậy mà dì
hội được mới tài chứ'. Mẹ xơi cơm xong cứ đòi ba đồng. Dì vấn
một điếu thuốc đưa, mẹ liền chắp tay vái dì rồi ôm tay dì hôn.
Dì Diên cũng mê mẹ nốt. Dì cuốc cỏ ngoài vườn, mẹ ngồi trong cửa
sổ nhìn ra, dì gọi: 'Mệ ơi', mẹ: 'Dạ ơi' thật lớn, làm dì bỏ
cuốc chạy lại cửa sổ cầm tay mẹ hôn.
-
Những ngày cuối cùng - Bây giờ mẹ nằm, không còn cầm đũa muỗng
được, mỗi khi xơi cơm phải đỡ dậy. Khi đút cơm cho mẹ, tôi
thường niệm Phật và đếm thầm. Thức ăn vừa miệng thì đếm tiếng
thứ tám chín là mẹ nuốt. Tôi mừng thưa: 'Mẹ xơi ngon không mẹ?'
Mẹ trả lời: 'Dạ ngon vô cùng vô tận'. Những thứ mẹ không ưa thì
mẹ cứ nhai hoài, tôi niệm đến năm sáu chục tiếng Phật, mẹ cũng
chưa nuốt. Tôi thưa: 'Có ngon không mẹ?'. Mẹ dạy: 'Dạ vừa thôi',
thật là dễ thương. Từ ngày mẹ lên chùa cho đến ngày cuối chưa
lúc nào mẹ đòi thứ này thứ kia, nhất là cá thịt. Cho nên, tôi
chả có ngoại giao với các bà lối xóm để mẹ ngã mặn lần nào cả.
-
Đầu năm Bính Thìn, tức 1976, khuya 27 tháng Giêng đúng 3 giờ 30
, mẹ về Phật. Mẹ bỏ ăn vài ngày rồi ra đi thật nhẹ nhàng. Tôi
chả được dâng mẹ một viên thuốc nào trong mười mấy năm mẹ ở
chùa, vì chả lúc nào mẹ bệnh. Tiễn mẹ về Cực lạc xong, tôi viết
một bức thư gởi mẹ bên kia thế giới:
-
"Mẹ! Mẹ về Cực lạc trước, Mẹ trồng cây 'Mẹ' cho cao thiệt cao.
Bao giờ cành lá xum xê, con sẽ làm con chim bay về đậu trên cành
cây 'Mẹ' mà không dám làm sờn cành rụng lá đâu.
-
Mẹ
ơi, Mẹ đừng ngại, cây bên Tịnh độ không sợ người đẵn gốc, bứt lá
bẻ cành. Chim bên Tịnh độ không sợ người bắn ná phá tổ bắt chim,
vì cây và chim đều do Đức Phật hoá sanh. Chim con chuyền trên
cành cây Mẹ, con hót tiếng thật êm đềm, tiếng Pháp âm nhắc mẹ tu
hành hầu dự vào Phật địa. Gió trên cành cây Mẹ có tiếng vi vu
cũng là Pháp âm nhắc con tinh tấn để bước lên Phật quả. Sương
trên cành là sữa, con uống sữa mẹ trên cành cây tịnh, Mẹ con
mình tu hoài tu mãi cho đến khi đắc quả mẹ hí.
-
Đồng thời, nguyện cầu cho tất cả chúng sanh, những người niệm
Phật thì được về nước Phật, còn ai chưa niệm Phật thì phát tâm
niệm Phật, rồi cũng được về với Phật như Mẹ con mình. Mẹ ơi! con
thương mẹ vô cùng vô tận, nhờ nghĩ đến ngày Mẹ con gặp nhau bên
nước Phật mà con cảm thấy vui và rất an tâm. "
-
Một năm sau ngày mẹ mất, tôi vào Nha Trang rồi thăm lại Phan
Rang, nhớ mẹ tôi cảm tác bài thơ:
-
Năm kia cõng mẹ vào đây
-
Nhãn ngon một nhánh tự tay ta trồng
-
Bây giờ nhãn đã ra bông
-
Than ôi từ mẫu đi không trở về
-
Lăng già trăng chiếu ủ ê
-
Quyện theo hồn mẹ biết về phương nao?
-
Không gian trời dệt mây sầu
-
Ta
dìu hồn mẹ khỏi cầu sông mê
-
Lạc bang cảnh cũ mẹ về
-
Được gần Đức Phật tựa kề đài sen
-
Giã từ thế giới đão điên
-
Bao giờ hoàn nguyện ta nguyền ra đi
-
Bên nớ vui hơn bên ni
-
Gặp Phật, gặp Mẹ còn chi vui bằng!
- --o0o--
|
|