-
-
|
PHẬT HỌC CƠ BẢN
-
Phật Học Cơ Bản
-
Tập Hai
- Ban Hoằng Pháp
Trung Ương
GHPGVN
-
Chương Trình Phật Học Hàm Thụ (1998-2002)
Nguyệt San Giác Ngộ
- --- o0o ---
- Phần I
- Bài 6
- Bảy phương
pháp đi đến giác ngộ
(Thất giác chi)
- Thích Thiện Bảo
-
A- Dẫn nhập
- Giáo lý đạo
Phật được xem là một nền giáo lý thực nghiệm, nhằm giải quyết
những vấn đề về con người, đưa con người thoát khỏi những khổ
đau trói buộc do chính con người tạo nên, và nó đã trở nên một
phương tiện, hay một phương pháp giúp cho mọi người vượt khỏi
những bế tắc trong đời sống mà con người gặp phải, hay nói cách
khác, giáo lý đạo Phật là những phương thuốc trị những căn bệnh
cho mọi người, chính vì thế mà chúng ta thường nghe: "Chúng sanh
đa bệnh, Phật pháp đa phương" (chúng sanh có nhiều bệnh, Phật
pháp cũng có nhiều phương thuốc trị cho nhiều căn bệnh khác
nhau). Thất giác chi là bảy phương pháp nhằm giúp cho chúng sanh
thoát khỏi những vọng niệm mê lầm để đạt sự tỉnh giác trong đời
sống.
-
B- Nội dung
-
I- Ðịnh nghĩa
- Thất giác chi
(Satta sambojjhanga, Seven Factors of Enlightenment), còn gọi là
Thất bồ đề phần, Trung Hoa dịch là Giác đạo (con đường đưa đến
giác ngộ), một trong những thắng pháp (paramattha dhamma) của 37
phẩm trợ đạo được Ðức Phật đề cập ở phần Ðạo đế. Thất giác chi
là bảy phương pháp tu tập nhằm giúp cho hành giả đạt được giác
ngộ, thành tựu đạo quả giải thoát.
-
II- Nội dung của Thất giác chi
-
1)- Trạch pháp giác chi (Dhammavicaya sambojjhanga):
- Trạch là sự
chọn lựa, pháp là pháp môn, trạch pháp là sự chọn lựa pháp môn
tu tập sao cho phù hợp với trình độ căn cơ của chính mình. Nó
còn giúp cho mọi người nhận thức một cách sáng suốt để phân
biệt, lựa chọn một cách chính xác những phương thức khế hợp với
chính mình, vì thế cho nên các vị Tổ sư thường dạy: "Thuốc không
có quý-tiện, lành bệnh là thuốc hay, Pháp không có đốn-tiệm
(mau, chậm), hợp cơ là pháp diệu". Chọn được hướng để đi đúng
với chánh pháp là chúng ta đã thực hiện tinh thần trạch pháp
giác chi. Trong kinh Sa Di Thập Giới nói: "Cái khổ ở địa
ngục, của con lừa, con lạc đà chở nặng chưa phải là khổ, không
tìm thấy được hướng đi mới thực sự là khổ". Người muốn có một
chánh tư duy (suy tư một cách chân chánh) phải thực hành trạch
pháp, vì chính đây là một phương pháp phân tích, suy luận nhận
chân các giá trị hiện thực. Ðạo Phật xem sự tự giác trong niềm
tin phải được qua gạn lọc của trí tuệ được gọi là chánh kiến (sự
thấy biết một cách chân chánh), điều này Ðức Phật nói: "Tin ta
mà không hiểu ta là phỉ báng ta". Trong kinh Kamala (Tăng Chi
I), Ðức Phật nói: "Ðừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó
thường nghe nhắc nhở đến luôn. Ðừng tin tưởng điều gì mà điều đó
là một tập tục đã qua cả ngàn xưa để lại. Ðừng tin tưởng những
điều sáo ngữ hay bất cứ một điều gì mà người ta thường nói đến
nhiều quá. Ðừng tin tưởng bất cứ điều gì, dù cho điều đó là bút
tích của thánh nhân xưa để lại bảo ta phải tin. Ðừng tin một
điều gì dù điều đó ở dưới mãnh lực của ông thầy hay nhà truyền
giáo. Tất cả những sự thật, theo suy nghiệm riêng của mình và
sau khi xác nhận rõ ràng, phù hợp với lẽ phải, tạo thành hạnh
phúc riêng cho mình và hạnh phúc cho tất cả mọi người thì chính
đó là sự thật và ta cố gắng sống theo sự thật ấy". Người xưa
cũng thường dạy: "Thà ngàn năm không ngộ, còn hơn một phút sai
lầm". Tổ Lâm Tế nói: "Nhất niệm hào ly, thiên địa huyền cách"
(Một niệm lìa xa, đất trời xa cách). Nếu chúng ta chọn sai con
đường đi không đúng chánh pháp thì muôn kiếp khó tìm lại được.
Cho nên trạch pháp giác chi là yếu tố để giúp người học Phật
nhận thức một cách sáng suốt tỉnh táo trên con đường chọn lựa
pháp môn tu tập.
-
2)- Niệm giác chi (Sati sambojjhanga):
- Niệm là nhớ
nghĩ, giác là sự tỉnh giác. Niệm giác chi là luôn luôn nhớ đến
sự tỉnh giác. Ðây là phương pháp được Ðức Phật đề cập nhằm giúp
cho con người phát triển tuệ giác, đồng thời có công năng làm
cho các vọng niệm không dấy khởi. Như chúng ta biết, tạp niệm là
nguyên nhân làm cho con người kinh nghi và thoái hóa, nó là bước
trở ngại đáng kể cho tuệ giác phát triển, làm phân tán sức mạnh
của tâm thức.
- Trái lại,
chánh niệm giúp cho chúng ta nhận thức một cách rõ sự vật hiện
tượng qua các pháp vô thường, khổ, vô ngã trong đời sống, những
đổi thay của những dục niệm, cho chúng ta cái nhìn xét đoán
chuyển biến của tâm thức trong từng sát na sanh diệt, thấy rõ
các tà niệm, có nhận thức đúng đắn (chánh kiến) và nhờ đó chúng
ta nhận thức rõ sự thật của các pháp. Niệm giác chi giúp cho
chúng ta luôn tỉnh táo trong mọi hoàn cảnh khi đối diện với thực
tế của đời sống.
-
3)- Tinh tấn giác chi (Virya sambojjhanga):
- Tinh tấn giác
chi là nỗ lực chuyên ròng hướng đến tỉnh giác để loại trừ các tư
hoặc, thực hành chánh pháp làm cho tuệ giác được phát triển, dù
chúng ta có một lý tưởng cao đẹp nhưng thiếu chuyên chú, nỗ lực
và bền bỉ (tinh tấn) thì khó thành tựu được chí nguyện. Nhà
triết gia Huxley đã nói: "Mục đích tối cao trong đời người là sự
hành động, không phải là sự hiểu biết suông". Vì thế cho nên
tinh tấn là yếu tố tối quan trọng trong việc thực hiện lý tưởng
giải thoát giác ngộ; thiếu sự tinh tấn, nỗ lực của tự thân để
tạo thành sức mạnh nội tại thì không thể chiến đấu chống giặc
phiền não. Hình ảnh đầy sinh động dưới cội cây bồ đề khi Ðức Bổn
Sư Thích Ca dùng bát sữa của Sujàta, xong Ngài quăng bát đựng
sữa xuống dòng sông Ni Liên Thuyền và phát đại nguyện: "Dù thân
ta có khô, máu ta có cạn, nếu không thành đạo, ta nguyện không
rời khỏi chỗ ngồi này".
- Qua đó, chúng
ta nhận thấy trong tu tập hay đời sống thường nhật của con
người, bao giờ sự thành công cũng dành cho những con người siêng
năng và chăm chỉ (tinh tấn), thiếu chuyên cần thì dù có thông
minh đến đâu cũng khó thành tựu được sự nghiệp. Ðức Phật dạy:
"Hết ngày này qua tháng khác, hết giờ nọ sang giờ kia, người thợ
vàng phải nỗ lực công phu mới lọc được vàng ròng. Con người muốn
cho thân tâm trong sạch cũng phải cố gắng rèn luyện như thế"
(Pháp Cú).
-
4)- Hỷ giác chi (Piti sambojjhanga):
- Hỷ giác chi
là sự vui có tỉnh giác, khi tu tập, chúng ta luôn luôn cảm nhận
niềm an lạ trong đời sống hàng ngày, không bị phiền não trói
buộc, tùy hỷ với những thiện pháp mà mọi người xung quanh đã đạt
được. Vì thế cho nên người tu tập phải biết khởi tâm hoan hỷ
trong mọi hoàn cảnh để vượt qua mọi chướng duyên, trở ngại trên
bước đường tìm cầu sự an lạc giải thoát. Nếu như trong đời sống
không có sự vui tỉnh giác thì việc tu tập của hành giả
khó mà đạt được cứu cánh của sự giác ngộ. Trong nền giáo lý của
đạo Phật, tâm hỷ là yếu tố cơ bản, có công năng chuyển hóa và
hóa giải các cấu uế phiền não, nó là nhân tố giúp cho người thực
hành pháp cảm nhận phấn khởi trên bước đường tu tập, giúp cho
hành giả có một niềm tin mãnh liệt để đi đến thành tựu đạo quả
Bồ đề. Mục đích chính của đạo Phật là "chuyển mê khai ngộ, ly
khổ đắc lạc" (chuyển sự mê mờ làm cho chúng sanh giác ngộ, lìa
khổ được vui).
-
5)- Khinh an giác chi (Passaddhi sambojjhanga):
- Khinh có
nghĩa nhẹ nhàng, an là an ổn, khinh an giác chi là trạng thái
nhẹ nhàng an lạc tỉnh giác trong đời sống, luôn luôn thư thái do
đạt được niềm hỷ lạc thanh tịnh của các pháp thiện. Nó có công
năng làm cho các phiền não trói buộc bị tiêu trừ và đối trị
những bất thiện tâm sở làm dao động bất an. khi người tu tập đạt
được khinh an sẽ cảm nhận một trạng thái nhẹ nhàng, ví như người
bị bệnh qua được cơn đau lâu ngày hành hạ cơ thể. Do đó, họ có
thể vững bước trên con đường đi tới đích vì đã đạt được sự nhẹ
nhàng của tâm.
- Trong kinh A
Hàm kể một pháp thoại: Có một vị Tỳ kheo đang ngồi tĩnh tọa
trong rừng bỗng nhiên tâm hoan hỷ phát sanh thốt lớn lên: "Ôi,
hạnh phúc quá. Ôi, hạnh phúc quá...". Những người bạn đồng tu
ngồi bên cạnh nghe được liền đem bạch lại với Phật. Ðức Phật
nhân câu chuyện đó giảng cho mọi người nghe và hỏi vị Tỳ kheo
kia nguyên nhân vì sao khi tĩnh tọa lại phát ra những lời như
thế?
- Vị Tỳ kheo
bạch Phật: "Trong lúc ngồi thiền đạt được trạng thái an lạc, cảm
nhận thân tâm được nhẹ nhàng, con có thốt ra những lời đó vì
trước đây con làm quan trong triều, có đầy đủ cao lương mỹ vị,
kẻ hầu người hạ nhưng không ngày nào con cảm thấy yên tâm, luôn
luôn lo sợ bị người khác chiếm lấy quyền lực, địa vị của mình,
đối với nhà vua thì sợ bị khiển trách do kẻ sàm tấu tâu lên.
Trái lại từ khi con vào đây sống với đời sống phạm hạnh, con
thấy không bị những bất an sợ hãi lo lắng như ở triều đình, nên
khi ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây, con cảm nhận có một niềm an lạc
khinh an (nhẹ nhàng) hạnh phúc tràn ngập trong lòng nên con thốt
lên những lời như thế".
-
6)- Ðịnh giác chi (Samadhi sambojjhanga):
- Ðịnh là
samadhi, là giữ tâm an trụ vào một điểm, một đối tượng, không
cho tâm phan duyên phóng đi nơi khác. Ðịnh giác chi là tâm luôn
luôn an định tỉnh giác, không bị chi phối bởi phiền não vọng
tưởng và các duyên bên ngoài tác động vào tâm thức. Chúng ta
biết giáo lý đạo Phật là giáo lý nội quan, cho nên việc thực
hành chánh định không thể thiếu trong đời sống của người con
Phật. Mục tiêu của đạo Phật là giúp con người quay lại tìm về
chính mình, nhận chân giá trị của mọi giá trị không có giá trị
nào bằng giá trị nơi từng con người, vì chính hạnh phúc hay khổ
đau đều do con người tạo nên. Cho nên Ðức Phật từng nói: con
người là tối thượng. Việc tu tập để tâm định không có nghĩa là
để biết người khác, tìm tòi "soi căn, soi kiếp của người khác",
hay để có thần thông, phép lạ trị bệnh chữa tà, sai khiến quỷ
thần, những điều đó trái với tinh thần đạo Phật. Trái lại, định
của Phật dạy là để chữa căn bệnh vọng tưởng chạy theo cảnh duyên
bên ngoài, không nhận chân được giá trị của nguồn hạnh phúc của
chính mình, đây thực sự là điểm khác biệt của đạo Phật với các
tôn giáo khác.
-
7)- Xả giác chi (Upekkhà sambojjhanga):
- Xả là
upekkhà, do hai từ gốc upa là đúng đắn, chân chánh, vô tư, và
ikkha trông thấy, nhận thức, suy luận. Vậy, upekkhà là trông
thấy đúng đắn, nhận định chân chánh, hoặc suy luận vô tư, không
luyến ái, không ghét bỏ, không ưa thích cũng không bất mãn. Kinh
Jãtaka nói: "Trong hạnh phúc, trong phiền não, lúc thăng, lúc
trầm, ta phải giữ tâm như đất. Cũng như thế, trên đất, ta có thể
vất bất cứ vật gì, dầu chua, ngọt, sạch, dơ, đất vẫn thản nhiên,
một mực trơ trơ. Ðất không giận cũng không thương". Dùng tuệ
quán đối trị với chấp thủ của tâm, không để cho bóng dáng của
vọng tưởng lưu lại nơi tâm thức, luôn luôn để tâm đạt được sự an
tịnh, đó là chúng ta thực hành tâm xả. Không một đối tượng nào
có thể làm cho người có tâm xả bị lay chuyển. Thuận và nghịch
cảnh không làm cho người có tâm xả cảm thấy bất an trước những
thuận nghịch của ngoại duyên. Bát phong không làm cho người thực
hành pháp xả bị cuốn theo. Người thực hành tâm xả không chấp thủ
vào các pháp mình đã tu, đã đạt được. Kinh Kim Cang Sớ nói:
"Người tu tập phải như thuyền qua sông, khi thuyền đã cập bến,
nếu ta không bỏ để lên bờ thì đừng hòng đi đến đâu và biết được
gì".
-
III- Một số ý niệm khi thực hành pháp
giác chi
- 1)- Khi thực
hành trạch pháp giúp cho người con Phật nhận thức một cách độc
lập, tự do, tự chủ, có tỉnh giác, không bị những tín điều, giáo
điều, những xu hướng ỷ lại vào những quyền năng thần lực gia hộ,
phù trì, làm đức tin bị mù quáng, thủ tiêu hết mọi ý chí suy tư
tự chủ cá nhân của con người.
- 2)- Con người
luôn luôn bị những tà niệm, tạp niệm chi phối không giữ được
chánh niệm, phân tán sức mạnh nội tại, làm tiêu tan ý chí với
những hoài nghi tìm cầu viển vông không thiết thực. Thực hành
niệm giác chi là chúng ta đã điều chỉnh tâm sinh lý về mặt tự
thân.
- 3)- Thực hành
pháp tinh tấn giác chi là chúng ta loại trừ tính biếng nhác, do
dự và bất nhất trong đời sống khi gặp nhiều chướng duyên trắc
trở. Có thể nói tinh tấn là yếu tố phát triển đức tính kiên trì
giúp cho con người thành công trên bước đường lập nghiệp.
- 4)- Những lo
âu phiền muộn là nguyên nhân gặm nhấm thiêu đốt con người trở
nên héo tàn theo thời gian, cho nên người ta thường nói: "Nụ
cười hơn mười thang thuốc bổ". Thật vậy, ứng dụng hỷ giác chi là
chúng ta có nụ cười trong tỉnh thức. Ngài Dhammanda nói: "Bí
quyết của một đời sống hạnh phúc và thành công là cố gắng làm
những điều đáng làm trong hiện tại, không lo âu tương lai, không
phiền muộn về quá khứ".
- 5)- Mọi sự
chấp trước bất an, sợ sệt đều là những nguyên nhân làm cho thân
tâm chúng ta nặng nề không thoải mái trong đời sống, bực dọc
trong sinh hoạt. Thực hành khinh an giác chi là chúng ta có một
thân tâm nhẹ nhàng, trút bỏ gánh nặng của lo âu, sợ hãi. Thảnh
thơi tự tại ung dung trong công việc là chúng ta đã thể hiện
người con Phật hưởng được pháp vị của Phật.
- 6)- Oán thù,
chiến tranh, tranh chấp quyền lợi hơn thua, phải quấy làm khổ
mình, khổ người. Mọi sự đổ vỡ hạnh phúc, bạn bè thân thuộc,
trong gia đình đều bắt nguồn từ nguyên nhân không làm chủ được
tâm. Hành pháp định giác chi là người con Phật học pháp làm chủ
mình, phát triển sức mạnh tinh thần, không bị những tác duyên
bên ngoài sai khiến.
- 7)- Những đố
kỵ, ganh ghét, bỏn xẻn đều bắt nguồn từ chỗ thiếu tâm xả mà ra,
cho nên phiền não khổ đau cũng từ nơi đất này phát sinh trổ quả.
Thực hành xả giác chi là chúng ta đã mở rộng lòng từ, buông xả,
tiêu trừ hết mọi tâm lý nhỏ hẹp, ích kỷ, đập tan tường thành cá
nhân chủ nghĩa. Vì thế cho nên muốn cho đời sống của mình và
người có hạnh phúc an vui, phải thực hành xả giác chi: chỉ có
lòng thương yêu chân thật đặt trên tư tưởng bình đẳng mới đem
lại ý nghĩa cho cuộc sống.
-
C- Kết luận
- Qua những yếu tố trên, cho chúng
ta một nhận thức: chỉ có con đường thực hành bảy phương pháp đưa
đến giác ngộ (Thất giác chi) mới đem lại đời sống an vui hạnh
phúc, thoát khỏi khổ đau mà Ðức Phật đã tuyên bố: "Nước của bốn
biển chỉ có một vị duy nhất, đó là vị mặn của muối; giáo pháp
của Như Lai cũng thế, chỉ có một vị, đó là vị giải thoát"./.
- -oOo-
-
Câu hỏi hướng dẫn ôn tập
- 1- Thất giác chi là gì?
- 2- Hãy giải thích tóm tắt
từng giác chi.
- 3- Trong những giác chi
thì giác chi nào giúp cho người Phật tử xây dựng quyền tự do
cá nhân tuyệt đối?
- 4- Theo quan niệm của
riêng từng cá nhân thì Thất giác chi góp phần được gì trong
việc xây dựng một gia đình tin Phật có hạnh phúc? Cho thí dụ
về gia đình mình sau khi ứng dụng tu tập.
|
--o0o--
|
|