-
-
|
PHẬT HỌC CƠ BẢN
- Phật
Học Phổ Thông
- Khóa Thứ
Ba
Thinh
Văn Thừa Phật Giáo
- --- o0o ---
- Bài Thứ 8
(tt)
- C. Tứ Như
Ý Túc
-
A. Mở Ðề
- Sau khi đã
nhận rõ được chân tướng của cõi đời (Tứ niệm xứ), đã quyết tâm
bỏ ác theo thiện (Tứ Chánh cần), hành giả muốn đi xã trên đường
đạo, cần phải vạch cho mình một hướng tiến nhất định và phải có
một thái độ quyết tâm nhắm theo đúng hướng đã vạch mà đi, không
nhìn ngang nhìn ngửa, không mong ước cái này cái khác. Hành giả
chí quyết đi một đường, tập trung tất cả mong ước, chí nguyện, ý
chí, năng lực tinh thần của mình vào đó đến khi được toại nguyện
như ý mới thôi.
- Muốn được như
thế, hành giả phải tu theo pháp môn "Tứ Như ý túc", một trong
những pháp môn của Ðạo đế dưới đây.
-
B. Chánh Ðề
- I. Ðịnh
Nghĩa Tứ Như Ý Túc
- Tứ Như ý túc
là bốn phép thiền định. Nói cho rõ đó là bốn phươngtiện giúp
chúng ta thành tựu các tam ma địa Samadhi: (chánh định), vì thế
nên cũng gọi là định pháp. "Như ý" là được như ý mình muốn.
"Túc" là chân, có nghĩa nương tựa mà cũng có nghĩa là đầy đủ. Tứ
Như ý túc, có nghĩa là bốn phép làm nơi nương tựa cho các công
đức thiền định, thần thông được thành tựu mỹ mãn như ý muốn của
mình. Bởi lý do ấy, nên cũng gọi nó bằng tên Tứ thần túc. Luận
Câu xá quyển 25 có nói: "Vì sao định mà gọi là thần túc? Vì các
công đức lỉnh diệu thù thắng đều nương nơi bốn định này mà được
thành tựu".
- Bốn định ấy
là:
- Dục Như ý
túc
- Tinh tấn Như
ý túc
- Nhất tâm Tứ
Như ý túc
- Quán Như ý
túc.
- II. Thành
Phần Và Nội Dung Của Tứ Như Ý Túc
- 1. Dục như ý
túc: Dục là mong muốn. Mong muốn một cách thiết tha, mong muốn
cho kỳ được, mong muốn cho đến khi mãn nguyện mới thôi. Ðó gọi
là dục như ý túc. Nhưng mong muốn cái gì? Tại sao đã là Phật tử
mà còn "dục", còm mong muốn?
- Trước tiên,
chúng ta nên nhận định rõ ràng tánh chất của sự mong muốn ở đây.
Có thứ mong muốn thỏa mãn những thú tánh, những tham vọng, đó là
mong muốn tội lỗi, nên diệt trừ. Có thứ mong muốn hướng thượng,
trong lành, như mong muón sống một cuộc đời đẹp đẽ, thanh cao,
mong muốn được giải thoát ra ngoài biển khổ sanh tử, đó là thứ
mong muốn hợp lý, đáng khuyến khích. Người Phật tử mong muón
được thành đạt pháp tiền định mình đang tu, để tiến lên chứng
các Thánh quả. Thứ mong muốn này rất cần cho người tu hành; nếu
không mong muốn thiết tha, mãnh liệt thì khó mà đi đến đích giải
thoát được. Ðây cũng là một sự cải chính rất hùng hồn để đánh
tan quan niệm sai lầm cho rằng: người Phật tử phải diệt dục, mà
diệt dục nghĩa là diệt tất cả, diệt luôn cả sự sống. Thật ra
diệt dục ở đây tức là dực vọng, diệt những phần ham muốn xấu xa
đê hèn, làm cho con người bị đọa xuống hàng thấp thỏi như loài
sức sanh, địa ngục, chứ đâu có diệt luôn cả những chí nguyện,
những mong ước, những đức tánh tốt đẹp của con người. Sự mong
muốn say nầy, người Phật tử không bào giờ lãnh quên, trái lại họ
trút cả tâm tư hướng về cái đích mình đang nhắm, những pháp mình
đang tu. Người thế gian ưa thích vật dục mạnh mẽ như thế nào,
thì người tu hành mong muốn thành tựu những pháp thiền định của
mình cũng mạnh mẽ như thế ấy. Có như thế, hành giả mới tăng tiến
mãi trên bước đường tu hành của mình.
- 2. Tinh tấn
như ý túc: Tinh tấn là dũng mãnh, chuyên nhất vào pháp thiền
định mình đang tu. Phần trên chỉ mới là sự ước muốn. Sự ước muốn
dù đẹp đẽ bao nhiêu mà không ra công, gắng sức, luôn luôn bền
tâm vững chí, nghĩa là thiếu sự Tinh tấn dũng mãnh, thì ước muốn
muôn đời cũng chỉ là ước muốn suông mà thôi.
- Chúng ta nên
nhớ rằng: Tinh tấn không phải chỉ là sự hắng hái, bồng bột trong
chốc lát, như sự ồ ạt, bốc cháy của ngọn lửa rơm. Tinh tấn là
nghị lực tu tập mạnh mẽ, thường hằng, không bao giờ gián đoạn.
Trong kinh Di Giáo đức Thế Tôn có dạy: "...Như người kéo cây lấy
lửa, cây chưa nóng đã thôi, tuy muốn được lửa, nhưng khó thể
được".
- Vậy người muốn chứng đạo quả,
phải thường Tinh tấn đầy đủ như ý mình ước nguyện.
- 3. Nhất tâm
như ý túc: Nhất tâm là tâm chuyên nhất vào định cảnh, không bào
giừo tán loạn. Một con sông lớn, nếu bị chia nhiều ngành tất
nhiên sức chảy của nó bị yếu. Trái lại, một giòng suối nhỏ, nếu
chỉ chảy một đường, cũng đủ sức xoi thủng đá. Người tu hành, tâm
được chuyên nhất, không bị tán loạn, thì muôn sự đều thành. Phật
có dạy: "như người chứa nước, khéo giữ bờ đê, người tu hành giữ
nước trí tuệ cũng vậy, phải khéo tu thiền định, chớ cho tán
động".
- 4. Quán như ý
túc: Quán nghĩa là dùng trí tuệ sáng suốt quán sát pháp mình
đang tu. Quán trí ấy do định mà phát sanh, trí ấy là tịnh trí.
Vì tịnh cho nên nó có thể như thật thông đạt thật nghĩa (chân
lý) của các pháp (vũ trụ).
-
C. Kết Luận
- Tóm Tắt Ý
Nghĩa Và Diệu Dụng Của Tứ Như ý Túc
- Sở dĩ Dục,
Tinh tấn, Nhất tâm và Quán đều được gọi là như ý túc, vì chúng
ta là những thứ để cho tất cả công đức tu hành, thần lực nương
vào đó mà phát sanh, hợp như ý muốn của hành giả.
- Bốn phép nầy
như bốn nấc thanh kế tiếp theo nhau, để đưa hanh giả từ cái nhân
hữu lậu mê mờ, đến cái nhân vô lậu giải thoát: Trước hết, do tu
tâm hằng mong muốn (Dục), cho nên sự tu tập dũng mãnh (Tinh
tấn); nhờ sự tu tập dũng mãnh, nên phiền não tiêu, tán động hết,
do đó tam được chuyên nhất (Nhất tâm), nhờ tâm chuyên nhất nên
quán trí được thanh tịnh mãnh lợi (Quán), và có năng lực phá tan
cội gốc vô minh.
- Khi vô minh
hết, thì vô số nghiệp chướng phải tiêu, hằng sa trí đức phát
hiện. Người tu hành, khi trí tuệ và công đức viên mãn tức khắc
đày đủ vô biên thần dụng trong sự hiện thân, hiện độ để cứu khổ
chúng sanh, chứ đâu có phải chỉ khi chứng được lục thông mới
được tự tại?
--o0o--
|
|