|
TỦ SÁCH PHẬT HỌC
-
ĐẠO ĐỨC PHẬT
GIÁO
-
VÀ HẠNH PHÚC
CON NGƯỜI
-
Hòa Thượng Thích Minh Châu
---o0o---
-
5
-
-
TIẾN TRÌNH GIẢI THOÁT
-
CỦA ĐỨC PHẬT KHI NGÀI THÀNH ĐẠO
-
-
Nhân dịpTập Văn
xuất bản kỷ niệm lễ Đức Phật Thích Ca Thành Đạo, chúng tôi
xin giới thiệu sau đây một bài kinh tên là Tapussa (Tăng Chi
III, số 41 trang 273, bộ mới, năm 1988), nói đến tiến trình
giải thoát của Đức Phật khi Ngài thành đạo.
-
Gia chủ Tapussa
cùng với tôn giả Ananda đến hỏi Đức Phật, vì sao giới cư sĩ
gia chủ, "thọ hưởng các dục, vui thích các dục, ưa thích các
dục, hoan hỷ các dục", xem đời sống viễn ly (nekkhamma) của
các vị xuất gia như là vực thẳm. Tuy vậy trong Pháp và Luật
của Thế Tôn lại có những Tỷ-kheo trẻ tuổi phấn khởi trong sự
xuất ly, tịnh tín, an trú hướng tới xuất ly, và các vị này
thấy trong sự xuất ly "Đây là an tịnh". Chính ở đây là sự
sai khác trong Pháp và Luật này giữa các Tỷ-kheo và phần
đông quần chúng. Sự ngạc nhiên và khâm phục của Tapussa được
Thế Tôn chấp nhận, và Đức Phật kể lại kinh nghiệm của Ngài
trong tiến trình thành đạo của Ngài dưới gốc cây bồ đề, khi
Ngài chưa thành bậc Chánh giác. Ngài diễn tả sự phấn khởi
của Ngài trong tiến trình tu tập vượt qua các chướng ngại để
đạt được các cảnh giới thiền, và vượt lên, đạt được các cảnh
giới thiền cao hơn, tất cả đòi hỏi một sự phấn đấu kiên
cường, sáng suốt, bền bỉ và tuần tự.
-
Và Ngài bắt đầu
với cảnh giới Sơ Thiền và đối tượng cần phải gạt bỏ là các
dục để chứng được Sơ Thiền. Ngài suy nghĩ: "Lành thay sự
xuất ly! Lành thay đời sống viễn ly". Nhưng tâm của Ngài
không có phấn khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tiến,
không có an trú, không có hướng tới xuất ly, dù Ngài có
thấy: "Đây là an tịnh". Rồi Thế Tôn suy nghĩ:
-
1) "Do nhân gì,
do duyên gì, tâm Ta không có phấn khởi trong xuất ly, không
có tịnh tín, không có an trú, không có hướng tới, dù Ta có
thấy: 'Đây là an tịnh'? Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ: 'Vì Ta
không thấy sự nguy hiểm trong các Dục, vì Ta không làm cho
sung mãn sự nguy hiểm ấy. Lợi ích của xuất ly chưa được
chứng đắc. Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm
Ta không có phấn khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín,
không an trú, không có hướng đến'. Này Ananda, về vấn đề ấy,
Ta suy nghĩ như sau: 'Nếu sau khi thấy sự nguy hiểm trong
các Dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng
được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy,
thời sự kiện này có thể xảy ra: Tâm của Ta có thể phấn khởi
trong xuất ly, tịnh tín, an trú và hướng đến, vì Ta có thấy:
Đây là an tịnh'.
-
"Rồi này, Ananda,
sau một thời gian, sau khi thấy được sự nguy hiểm trong các
Dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được
lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này
Ananda, tâm Ta hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú,
hướng đến, vì Ta thấy 'Đây là an tịnh'. Này Ananda, sau một
thời gian Ta ly Dục... chứng đạt và an trú Sơ thiền.
-
2) "Do Ta trú với
sự an trú này, các tương tác ý câu hữu với Tầm và Tứ vẫn
hiện hành. Như vậy, đối với Ta là một chứng bệnh. Ví như,
này Ananda, đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi
lên, như là một chứng bệnh. Cũng vây, các tưởng tác ý câu
hữu với Tầm và Tứ vẫn hiện hành ở nơi Ta, như vậy, đối với
Ta là một chứng bệnh.
-
"Rồi này Ananda,
Ta suy nghĩ như sau: 'Vậy Ta hãy chỉ tức các Tầm và Tứ ...
chứng đạt và an trú Thiền thứ hai. Nhưng tâm của Ta không có
hứng khởi đối với không có Tầm và Tứ ấy, không có tịnh tín,
không có an trú, không có hướng đến, dù Ta có thấy 'Đây là
an tịnh'.
-
"Này Ananda, về
vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau: 'Do nhân gì, do duyên gì, tâm
Ta không hứng khởi đối với không có Tầm và Tứ ấy, không có
tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dù Ta có thấy
'Đây là an tịnh'? Này Ananda, về vấn đề ấy Ta suy nghĩ như
sau: 'Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các Tầm và Tứ, vì Ta
không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Lợi ích không có Tầm
và Tứ chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích
ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi đối với không có Tầm và Tứ
ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến'.
-
"Này Ananda, về
vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau: 'Nếu sau khi thấy nguy hiểm
trong các Tầm và Tứ, vì Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy.
Sau khi chứng được lợi ích không có Tầm và Tứ, Ta thưởng
thức lợi ích ấy, thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể
hứng khởi đối với không có Tầm và Tứ, tịnh tín, an trú,
hướng đến, vì Ta thấy 'Đây là an tịnh'.
-
"Rồi này Ananda,
sau một thời gian, sau khi thấy được sự nguy hiểm trong các
Tầm và Tứ, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi
chứng được lợi ích không có Tầm và Tứ, Ta thưởng thức lợi
ích ấy. Và này Ananda, tâm Ta hứng khởi đối với không có Tầm
và Tứ, tịnh tín, an trú, hướng đến, vì Ta thấy 'Đây là an
tịnh'. Này Ananda, sau một thời gian, Ta diệt Tầm và Tứ...
chứng đạt và an trú Thiền thứ hai.
-
3) "Do Ta trú với
sự an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với Hỷ vẫn hiện hành.
Như vậy, đối với Ta là một chứng bệnh. Ví như, này Ananda,
đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên, như là
một chứng bệnh. Cũng vậy, các tưởng tác ý câu hữu với Hỷ
hiện hành ở nơi Ta, như vậy, đối với Ta là một chứng bệnh.
-
"Rồi này Ananda,
Ta suy nghĩ như sau: 'Vậy Ta hãy ly Hỷ... chứng đạt và an
trú với Thiền thứ ba. Nhưng này Ananda, tâm của Ta không có
hứng khởi đối với không có Hỷ ấy, không có tịnh tín, không
có an trú, không có hướng đến, dù Ta có thấy 'Đây là an
tịnh'.
-
"Này Ananda, về
vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau: 'Do nhân gì, do duyên gì, tâm
của Ta không có hứng khởi đối với không có Hỷ ấy, không có
tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dù Ta có thấy
'Đây là an tịnh''? Này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: 'Vì Ta
không thấy sự nguy hiểm ấy trong Hỷ, vì Ta không làm cho
sung mãn sự nguy hiểm ấy. Lợi ích không có Hỷ chưa được
chứng đắc. Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm
Ta không hứng khởi đối với không có Hỷ ấy, không có tịnh
tín, không có an trú, không có hướng đến'.
-
"Này Ananda, về
vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau: 'Nếu sau khi thấy nguy hiểm
trong Hỷ, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng
được lợi ích không có Hỷ, Ta thưởng thức lợi ích ấy, thời sự
kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi đối với không
có Hỷ, tịnh tín, an trú, hướng đến, vì Ta thấy 'Đây là an
tịnh'.
-
"Rồi này Ananda,
sau một thời gian, sau khi thấy được sự nguy hiểm trong Hỷ,
Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi
ích không có Hỷ, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này Ananda,
tâm Ta hứng khởi đối với không có Hỷ, tịnh tín, an trú,
hướng đến, vì Ta thấy 'Đây là an tịnh'. Này Ananda, sau một
thời gian, Ta ly Hỷ... chứng đạt và an trú Thiền thứ ba.
-
4) "Do Ta trú với
sự an trú này, các tưởng tác ý câu hữu với Lạc vẫn hiện
hành. Đây đối với Ta là một chứng bệnh. Ví như, này Ananda,
đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên, như là
một chứng bệnh. Cũng vây, các tưởng tác ý cùng khởi với Lạc
vẫn hiện hành ở nơi Ta, như vậy, đối với Ta là một chứng
bệnh'.
-
"Rồi này Ananda,
Ta suy nghĩ như sau: 'Vậy Ta hãy đoạn Lạc, đoạn Lạc... chứng
đạt và an trú Thiền thứ tư. Nhưng tâm của Ta không có hứng
khởi đối với không Lạc, không có tịnh tín, không có an trú,
không có hướng đến, dù Ta có thấy 'Đây là an tịnh'. Này
Ananda, về vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau: 'Do nhân gì, do
duyên gì, tâm Ta không hứng khởi đối với không Lạc ấy, không
có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến, dù Ta có
thấy 'Đây là an tịnh'?
-
"Rồi này Ananda,
Ta suy nghĩ như sau: 'Vì Ta không thấy nguy hiểm trong Lạc,
vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Lợi ích của
không Lạc chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi
ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi đối với không Lạc ấy,
không có tịnh tín, không có an trú, không có hướng đến. Này
Ananda, về vấn đề ấy Ta suy nghĩ như sau: 'Nếu sau khi thấy
nguy hiểm trong Lạc, Ta làm cho sung mãn nguy hiểm ấy. Sau
khi chứng được lợi ích trong không khổ, không lạc, Ta thưởng
thức lợi ích ấy, thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể
hứng khởi đối trong không khổ, không lạc, tịnh tín, an trú,
hướng đến, vì Ta thấy 'Đây là an tịnh'.
-
"Rồi này Ananda,
sau một thời gian, sau khi thấy được sự nguy hiểm trong Lạc,
Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi
ích trong không Lạc, Ta thưởng thức lợi ích ấy. Và này
Ananda, tâm Ta hứng khởi trong không Lạc, tịnh tín, an trú,
hướng đến, vì Ta thấy 'Đây là an tịnh'. Này Ananda, sau một
thời gian, Ta xả Lạc ... chứng đạt và an trú Thiền thứ tư.
-
5) "Do Ta trú với
sự an trú này, các tưởng tác ý cùng khởi với xả lạc vẫn hiện
hành, Như vậy, đối với Ta là một chứng bệnh. Ví như, này
Ananda, đối với người sung sướng, đau khổ có thể khởi lên,
như là một chứng bệnh. Cũng vây, các tưởng tác ý cùng khởi
với xả lạc hiện hành ở nơi Ta, như vậy, đối với Ta là một
chứng bệnh"...
-
Tiếp tục như vậy,
Ngài chứng thiền Không biên xứ, Vô sở hữu xứ, Thức vô biên
xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Diệt thọ tưởng
định. Tại Không vô biên xứ thiền, Ngài vượt qua các sắc
tưởng. Tại Thức vô biên xứ thiền, Ngài vượt qua Không vô
biên xứ, chứng đắc Thức vô biên xứ. Tại Vô sở hữu xứ, Ngài
vượt qua Thức vô biên xứ và chứng đắc Vô sở hữu xứ. Tại Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài vượt qua Vô sở hữu xứ và chứng
đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tại Diệt thọ tưởng định,
Ngài vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ và chứng đắc Diệt
thọ tưởng định: "Ta phấn khởi trong Diệt thọ tưởng định,
tịnh tín, an trú, hướng đến, vì ta thấy "Đây là an tịnh".
Này Ananda, sau một thời gian, ta vượt qua Phi tưởng phi phi
tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định. Ta thấy
với trí tuệ và các lậu hoặc đi đến đoạn diệt".
-
Như vậy là tiến
trình giải thoát, thành đạo của Đức Phật đi từ Thiền thứ
nhất, vượt qua Thiền thứ hai, Thiền thứ ba, Thiền thứ tư,
vượt luôn bốn Thiền ở vô sắc giới, chứng đạt trú Diệt thọ
tưởng định, với trí tuệ đoạn trừ các lậu hoặc để thành bậc
Chánh giác. Cứ mỗi thiền chứng đạt, an trú và vượt qua, Thế
Tôn cần phải nỗ lực kiên trì đối trị với các trở ngại bệnh
chướng của mỗi thiền và cuối cùng chứng được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Ngài tuyên bố:
-
"Cho đến khi nào,
này Ananda, chín thứ đệ trú thiền chứng chưa được ta thuận
thứ nghịch thứ chứng đạt và xuất khởi, thời này Ananda,
trong thế giới này, với thiên giới, ma giới, phạm thiên
giới, với quần chúng sa môn, và Bà-la-môn, chư thiên và loài
người, cho đến khi ấy ta không xác chứng Ta đã chứng được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cho đến khi nào, này Ananda,
chín thứ đệ trú thiền chứng này đã được Ta thuận thứ nghịch
thứ chứng đạt và xuất khởi, thời này Ananda, trong thế giới
này, với thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, với quần
chúng sa môn, và Bà-la-môn, chư thiên và loài người, cho đến
khi ấy Ta mới xác chứng Ta đã chứng được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Tri kiến khởi lên nơi Ta, Ta biết rằng:
'Bất động là tâm giải thoát của Ta. Đây là đời sống cuối
cùng, nay không còn tái sanh nữa'".
(Tăng Chi III,
283).
-
Như vậy, tiến
trình giải thoát của Đức Phật cho thấy sự giải thoát giác
ngộ của Ngài là cả một quá trình tuần tự, từ Sơ thiền cho
đến Diệt thọ tưởng định, để cuối cùng đoạn diệt các lậu
hoặc, thành bậc Chánh đẳng Chánh giác. Trải qua 9 thiền
chứng như vậy, và lại mỗi thiền chứng, Ngài phải phấn đấu
vượt qua các chướng ngại, tiến lên thiền chứng kế tiếp, để
cuối cùng chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như vậy
tiến trình thành đạo của Ngài là một tiến trình tuần tự tiến
lên, từng thiền chứng một tiến lên thiền chứng kế tiếp,
không có vấn đề nhảy vọt, vượt qua nhiều cấp bậc một lần.
Tiến trình này cũng chứng tỏ không có vấn đề hoát nhiên đại
ngộ. Sự thành đạo của Ngài là cả một quá trình tu chứng lâu
dài kiên trì bền bỉ, luôn luôn hướng thượng, như trong kinh
này đã diễn tả.
--o0o--
|
|